ĐỀ TÀI: Một số biện pháp giúp trẻ nhà trẻ 24- 36 tháng tuổi hứng thú, yêu thích đến trường mầm non
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ ca dao tục ngữ mà đời xưa đã truyền lại cho chúng ta qua những câu từ trang sách “Trẻ em như búp trên cành- Biết ăn biết ngủ biết học hành là ngoan”. Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới thì giáo dục được đặt lên hàng đầu, đặc biệt là giáo dục mầm non. Ở độ tuổi từ 0- 6 tuổi trẻ được đến trường lớp mầm non, được vui chơi, học hành, được thỏa thích thể hiện cá tính của bản thân, trẻ vui tươi hồn nhiên và khám phá những điều mình muốn. Ở trường trẻ còn được sự chăm sóc ân cần của cô giáo, lại có các bạn cùng trang lứa cùng nhau học cùng nhau chơi thật vui biết bao do đó trẻ thường ham thích ham đến lớp học của mình. Đối với trẻ nhà trẻ 24- 36 tháng việc hàng ngày đến lớp chưa thành thói quen của trẻ. Do trong độ tuổi này trẻ đang được bố mẹ dìu dắt từng bước đi, bón từng thìa cơm chăm cho từng giấc ngủ, nên việc rời bố mẹ đến lớp hằng ngày với trẻ là việc rất khó khăn.
Những ngày đầu đón trẻ của năm học thật sự mỗi chúng tôi đã phải cố gắng hết mình vì công việc, vì các cháu. Bởi đây là thời gian mà các cháu bước đầu rời xa vòng tay cha mẹ, đến với một môi trường mới với những người mà bé chưa từng gặp. Các cháu đi học khóc rất nhiều, có những cháu đến lớp còn nôn trớ ra cả người cô giáo, thậm chí đánh cả cô giáo... thật sự những người giáo viên mầm non chúng tôi những ngày này cảm thấy rất mệt mỏi. Nhưng tôi rất yêu nghề mến trẻ, nhiều trẻ mới đến lớp không chịu vào lớp học ngày sau đó không dám đến trường vì lạ bạn, sợ cô. Về phần phụ huynh thì không dám tin con mình có đi học được hay không, sợ con khóc nhiều khi xa ba mẹ. Làm sao để phụ huynh yên tâm, vui vẻ khi trao con cho các cô?
Đó là một quá trình lâu dài đòi hỏi rất nhiều sự âu yếm, kiên trì và hiểu biết về chăm sóc và dạy bảo của cha mẹ, ông bà, cô giáo. Khi trẻ đến lớp mỗi trẻ là một cơ thể duy nhất, do đó trẻ sẽ hành động trong một môi trường theo cách của mình. Chính vì vậy, cô giáo cần tạo cho trẻ một tâm thế tốt khi ở lớp, một không khí tình cảm yêu thương, tôn trọng trẻ. Điều này giúp trẻ biết nghe lời cô và phát triển khả năng bẩm sinh sẵn có của mình, hứng thú nhận thức càng cao trẻ càng thể hiện rõ hơn năng lực của bản thân. Thậm trí hứng thú có thể làm biến đổi một cách đáng kể hiệu quả hoạt động của trẻ. Trẻ đến trường mầm non được tham gia các hoạt động học tập, vui chơi, rèn nề nếp một cách nhịp nhàng, phù hợp, đảm bảo đúng theo chương trình giáo dục mầm non của Bộ giáo dục và Đào tạo, lĩnh hội các kỹ năng sống, phát triển tình cảm, những kinh nghiệm xã hội, nuôi dưỡng sự phát triển trí tuệ và lĩnh hội các kiến thức. Phát triển kiến thức luôn song hành vơi phát triển các mối liên hệ tâm lý cho trẻ. Chính vì lý do trên mà tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện pháp giúp trẻ nhà trẻ 24- 36 tháng tuổi hứng thú, yêu thích đến trường mầm non”.
Bảng tổng hợp kết quả khảo sát trẻ đầu năm
(Tổng số trẻ được đánh giá 30 trẻ = 100%)
| STT | Nội dung lựa chọn | Đạt | Tỉ lệ (%) | Chưa đạt | Tỉ lệ (%) |
| 1 | Trẻ tự tin, hứng thú đến lớp. | 8 | 27 | 22 | 72 |
| 2 | Trẻ thích nghi với các hoạt động và nề nếp ở lớp, ở trường. | 12 | 40 | 18 | 60 |
| 3 | Trẻ đi học đều. | 15 | 50 | 15 | 50 |
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀI. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Xuất phát từ tâm lý của trẻ nhà trẻ lúc này trẻ vừa sống trong môi trường gia đình, bước đầu trẻ phải đi học, được tiếp xúc với nhiều người trong xã hội, trẻ 24- 36 tháng do tôi phụ trách là độ tuổi còn non nớt, khóc nhiều vì xa cha mẹ, chưa quen với cô và các bạn, chưa thích nghi với điều kiện sinh hoạt và hoạt động ở lớp, các cháu không cùng tháng tuổi, mỗi cháu đều có sở thích và tính cách khác nhau.
Đa số phụ huynh buôn bán tự do hay tính chất công việc chiếm nhiều thời gian, một số do bận rộn công việc kiếm sống nên chưa thực sự quan tâm đến con em mình vì vậy phụ huynh nhờ cậy việc dạy dỗ con cái cho cô giáo ở trường và có số phụ huynh lại thương con thấy con khóc nhiều, con nôn trớ lại đưa con về không cho cháu đi học nữa. Vì thế để các cháu thích được đi học và các bậc phụ huynh yên lòng gửi lớp thu hút được đông các cháu đi học tôi quyết định chọn đề tài này để đưa ra một số biện pháp tốt nhất giúp trẻ thích được đến lớp cùng cô giáo và các bạn: Nhằm giúp các trẻ mới đến lớp không rụt rè, sợ sệt và thích đi học để các bậc phụ huynh an tâm trong những ngày đầu tiên con mình xa bố mẹ.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1. Mô tả thực trạng.
Trường nằm trên một xã thuần nông, đa số phụ huynh làm nghề nông và buôn bán nhỏ, công nhân tại khu công nghiệp nên đời sống còn gặp nhiều khó khăn, dân cư trong xã không ổn định. Trường gồm học sinh của 2 thôn có dân cư không tập trung và rải rác nhiều xóm cách xa nhau.
Trường có 10 lớp học khang trang, rộng rãi, thoáng mát và các phòng chức năng. Có sân chơi đảm bảo các họat động giáo dục của trẻ
Năm học 2025- 2026, Ban giám hiệu nhà trường phân công tôi cùng 3 giáo viên phụ trách lớp nhà trẻ 24- 36 tháng tuổi. 3 giáo viên đã tốt nghiệp đại học sư phạm mầm non
- Lớp tôi có 30 trẻ trong đó có 17 bé trai và 13 bé gái.
- Phụ huynh lớp rất quan tâm và nhiệt tình.
Trong quá trình thực hiện tôi đã gặp những điều kiện thuận lợi và một số khó khăn sau:
2. Thuận lợi:
Lớp được đầu tư đầy đủ các cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, dụng cụ phục vụ cho công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Lớp học thoáng mát, sạch sẽ gọn gàng. Sân trường rộng rãi có nhiều cây xanh, khung cảnh sư phạm đẹp.
Giáo viên của lớp đều nhiệt tình năng động trong công việc, tự trau dồi kiến thức để nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.
Trẻ lớp tôi đều đúng độ tuổi nên thuận lợi cho việc chăm sóc, giáo dục trẻ.
Phụ huynh quan tâm ủng hộ cho lớp trong mọi hoạt động.
Ban giám hiệu luôn quan tâm giúp đỡ, bồi dưỡng chuyên môn, cung cấp tài liệu chuyên môn động viên khích lệ giáo viên phát huy hết khả năng sáng tạo.
3. Khó khăn:
Bản thân tôi là năm đầu tiên phụ trách lớp nhà trẻ 24- 36 tháng tuổi nên chưa có nhiều kinh nghiệm tạo niềm vui, sự hứng thú, yêu thích khi đến lớp của trẻ.
Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi trẻ nhà trẻ còn yếu sức đề kháng chưa cao, rất hay bị ốm và nghỉ học.
Trẻ nhỏ chưa tự phục vụ được ăn, uống, vệ sinh. Các cô phải chăm sóc các con mọi lúc mọi nơi nên rất vất vả.
Số trẻ ra lớp không ổn định, trẻ đi học không đều. Chỉ thay đổi thời tiết hoặc trẻ hắt hơi sổ mũi phụ huynh cũng cho con nghỉ học.
Phụ huynh của trẻ làm nhiều nghề khác nhau, bận nhiều công việc, nhiều khi chưa quan tâm hết đến việc học tập của các con, sự phối hợp cùng giáo viên chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ còn hạn chế.
Xuất phát từ những thuận lợi và khó khăn như trên, tôi luôn trăn trở suy nghĩ để tìm ra các biện pháp giúp trẻ hứng thú, yêu thích đến trường mầm non.
III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Biện pháp 1: Tích cực quan tâm tới tâm lý hàng ngày của trẻ và phụ huynh để tạo niềm vui cho trẻ.
Làm thế nào cho trẻ nhanh hòa nhập với trường với lớp để trẻ thích đi học đó là điều mà cha mẹ và cô giáo cần làm.
Thực tế, rất ít trẻ tự nguyện đến lớp. Các bậc phụ huynh và các cô giáo thường rất vất vả trong những ngày đầu bé đi nhà trẻ. Sự thay đổi môi trường từ gia đình đến nhà trường, từ chỗ thân thuộc đến nơi mới lạ sẽ làm nhiều bé cảm thấy bất an. Đa số các bé đều khóc, thậm chí có những trẻ còn ốm hay tỏ vẻ thất thần. Vì vậy, vai trò của cô giáo lúc này rất quan trọng, cô phải là người mẹ thứ 2 để tạo cho trẻ sự gần gũi, cảm giác an tâm và niềm tin những ngày đầu đến lớp. Trước tiên việc kết hợp với phụ huynh là rất cần thiết vì khi tiếp xúc với phụ huynh cô giáo có thể tìm hiểu được mọi thông tin của cá nhân trẻ. Từ đó cô giáo sẽ làm quen trẻ nhanh hơn, trẻ cũng rất yên tâm khi tiếp xúc với các cô trong những ngày đầu đến trường.
* Thực trạng cũ:
Trong những năm học trước, các cô giáo thường có những cách đón nhận trẻ mới như sau:
Khi phụ huynh bế trẻ mới vào lớp cho cô giáo, các cô chỉ hỏi tên trẻ và đón trẻ vào lớp cho trẻ chơi với các bạn mới hoăc đặt trẻ ngồi vào ghế. Trước đó phụ huynh chưa cho con làm quen với các cô, đối với trẻ các cô đang là người xa lạ.
Các giáo viên đều nhiệt tình đón nhận trẻ mới nhưng các cô chưa tìm hiểu hết các thông tin cần thiết của trẻ mới, chưa trò chuyện làm quen trẻ trước, do đó đã tạo một khoảng cách xa lạ giữa cô và trẻ, hôm sau trẻ không thích đi học hoặc khóc khi bố mẹ bắt đi học. Chính vì vậy trong năm học này tôi đã mạnh dạn thay đổi những giải pháp sau:
* Đổi mới cách nhận trẻ mới trong năm học:
Vào đầu năm học, khi trẻ lớp tôi là trẻ mới 100%, tôi đã xin phép Ban giám hiệu cho tôi được tham gia công tác tuyển sinh học sinh lứa tuổi nhà trẻ. Tôi gặp gỡ và trao đổi với phụ huynh tất cả các thông tin về trẻ, sau đó tôi đã lập kế hoạch cụ thể để tìm hiểu về các thông tin liên quan đến trẻ.
Kế hoạch cụ thể như sau:
Sau khi tuyển sinh tôi xin phép nhà trường tổ chức buổi họp phụ huynh với trẻ mới trước ngày đầu trẻ đến lớp. Trong buổi họp tôi tuyên truyền cho các phụ huynh những tác dụng của việc cho con đi học nhà trẻ, sau đó tôi phổ biến các hoạt động trong một ngày của trẻ tại lớp học, các thực đơn trẻ ăn ở trường để phụ huynh về cho con làm quen dần với các loại thức ăn mới. Sau đó là cách phòng chống các loại dịch bệnh để đảm bảo sức khoẻ cho trẻ. Từ đó phụ huynh sẽ yên tâm hơn khi cho con đi học. Ngoài ra, tôi còn trao đổi với phụ huynh tìm hiểu về đặc điểm, tính cách, sở thích riêng của từng trẻ để hiểu trẻ trước khi đón trẻ vào lớp.
+ Phụ huynh cần biết việc đưa trẻ đến trường là để giúp trẻ biết tự lập dần dần và biết chơi với bạn hòa thuận, phát triển ngôn ngữ, giao tiếp, vận động.
+ ChuÈn bị tâm lý cho trẻ trước khi đi học để gây thiện cảm đối với trường mầm non: Giới thiệu với trẻ ở trường có nhiều bạn, nhiều đồ chơi, cô giáo rất yêu thương trẻ để trẻ hứng thú và yêu thích đi học hơn.
+ Tôi đã nhờ phụ huynh giải thích cho trẻ hiểu khi trẻ đi học thì ông bà cha mẹ làm gì và trẻ chỉ ở trường ban ngày, chiều bố mẹ lại đón về để trẻ yên tâm là mình không bị bỏ rơi.
Khi trẻ sắp đi học, tôi đề nghị phụ huynh cho trẻ tới trường trước 2 đến 3 lần, để trẻ làm quen với trường học như quan sát môi trường mới, nhìn các trẻ khác chơi đùa, làm quen với cô giáo dạy trẻ sau này...
Tôi đã tuyên truyền cho phụ huynh cần phải tìm hiểu chế độ ăn uống và lịch sinh hoạt hằng ngày ở nhà trường để tập cho trẻ làm quen dần và chuẩn bị sức khỏe cho trẻ thật tốt trước khi đi học.
Một điều cần lưu ý mà tôi nhắc phụ huynh là dành thời gian đưa đón con đi học trong những ngày đầu, để trấn an trẻ. Không đón trẻ về muộn hơn những trẻ khác, vì sẽ tạo cho trẻ tâm lý bị cha mẹ bỏ rơi và từ đó trẻ sợ đi học.
Đặc biệt là tránh thái độ hù dọa khi đưa trẻ đến trường như: “Nếu con không ngoan bị cô giáo đánh” hoặc “Con hư sẽ đưa con đến trường hay mách cô giáo”… Vì điều này sẽ vô tình tạo cho trẻ ý thức “Cô giáo rất dữ” và “Đi học là bị phạt phải xa cách gia đình”, từ đó trẻ “Sợ” cô giáo và không thích đi học.
(Ảnh minh họa 1- Phụ lục 1).
Khi đón trẻ vào lớp tôi luôn có tác phong nhẹ nhàng, thái độ ân cần, niềm nở âu yếm trẻ. Nếu trẻ không khóc tôi cho trẻ chơi cùng các bạn. Đối với trẻ khóc nhè tôi dỗ dành trẻ, bế trẻ kết hợp trò chuyện gọi tên trẻ, xưng tên cô. Qua những câu trò chuyện xưng tên cô giáo giúp trẻ nhớ tên cô và tạo tình cảm giữa cô và trẻ. Tôi cho trẻ đi dạo quanh lớp gợi hỏi trẻ tên các đồ vật, đồ chơi này tên là gì? Để trẻ trả lời từ đó đánh lạc hướng sự chú ý của trẻ, trẻ sẽ quên việc khóc nhè.
(Ảnh minh họa 2- Phụ lục 1).
Trong các hoạt động hàng ngày tôi luôn quan tâm, gần gũi, âu yếm trẻ. Với trẻ lứa tuổi nhà trẻ có đặc điểm ưa nịnh, thích khen ngoan nên tôi luôn dùng các lời ngọt ngào, âu yếm để khen trẻ, hay chỉ đơn giản là cái vuốt má, một cái ôm nhẹ nhàng cũng đủ làm trẻ phấn khởi, sung sướng và cảm thấy an tâm hơn khi ở bên cô.
* Kết quả: Trong 3 tháng đầu năm học 2020- 2023 với những cách làm như trên, việc nhận trẻ mới vào lớp đã có kết quả như sau:
Ngay sau đợt tuyển sinh trẻ theo công văn của cấp trên, lớp đã nhận theo đúng chỉ tiêu nhà trường giao, trẻ rất ngoan khi đến lớp.
Tạo được cho trẻ tâm lý thoải mái khi đi lớp. Các bé nhanh chóng quen với chế độ sinh hoạt, nề nếp ở lớp.
Tình cảm của cô và trẻ gần gũi, thân thiết hơn. Trẻ luôn yêu quý và gọi tôi là mẹ. Nhiều phụ huynh kể lại về nhà trẻ hay nhắc đến cô. Một số ngày nghỉ trẻ cũng đòi bố mẹ cho đi học.
- 100% phụ huynh yên tâm công tác khi gửi con đến trường.
2. Biện pháp 2: Xây dựng môi trường lớp học lấy trẻ làm trung tâm.
Để trẻ mầm non “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”, thì môi trường học tập rất quan trọng, làm thế nào để trẻ hứng thú thích đi học, đến lớp học không muốn về là vấn đề mà nhà trường nào cũng hướng tới. Vì thế không chỉ dạy dỗ các con những kỹ năng cơ bản, mà tôi còn cố gắng nắm bắt những đặc điểm tâm lý của từng trẻ để đưa ra phương pháp giáo dục trẻ đúng đắn và luôn tạo môi trường lớp học đẹp, gần gũi phù hợp với lứa tuổi để khi trẻ tham gia chơi trẻ không nhớ tới gia đình, bố mẹ. Do đó, trong những ngày đầu chuẩn bị vào năm học tôi quan tâm nhiều đến việc trang trí, sắp xếp lại phòng lớp cho phù hợp với đặc điểm tâm lý trẻ. Điều đó được thể hiện qua một vài ví dụ ở các góc chơi sau:
Ví dụ: Ở góc hoạt động với đồ vật ngoài đồ chơi cơ sở vật chất của nhà trường, tôi còn mang đến cho trẻ một không gian chơi được mở rộng với các đồ dùng đồ chơi mở sáng tạo được làm từ những nguyên vật liệu khác nhau. Điều này đã kích thích chí tò mò cũng như khả năng sáng tạo của trẻ trong quá trình chơi. Trẻ không còn cảm thấy nhàm chán trong các giờ chơi dần dần trẻ tự tin, mạnh dạn hơn khi đến lớp. Như trong hoạt động xâu vòng: Ngoài những bông hoa nhựa, hạt nhựa có sẵn tôi chuẩn bị cho trẻ thêm các loại quả, lá, hoa, đồng tiền làm từ xốp, dạ, ống hút với nhiều màu và tôi sưu tập thêm các vỏ ngao đục lỗ…để trẻ xâu thành những chiếc vòng theo ý thích của trẻ. Qua đó trẻ thêm hiểu biết về màu sắc và sự phong phú của nhiều nguyên vật liệu khác nhau.
(Ảnh minh họa 3- Phụ lục 1).
Ở góc “Bé chơi với búp bê” tôi tạo một khung cảnh gần gũi ấm cúng để trẻ tham gia chơi bước đầu hình thành kỹ năng chơi trò chơi đóng vai cho trẻ. Trò chơi đóng vai là một hoạt động tự nhiên dành cho những đứa trẻ thích thú với môi trường xung quanh gần gũi của chúng, con người trong cuộc sống và đối tượng mà trẻ tiếp xúc hàng ngày. Ví dụ: Đứa trẻ sống trong một gia đình, khi trẻ được mua một con búp bê thì trẻ rất thích được “Giả bộ làm mẹ” đút cho búp bê ăn và thay tã cho búp bê. Vì chơi trò đóng vai là một hoạt động tự nhiên dành cho trẻ không cần học cách phải làm sao để “Giả vờ”. Sẽ thật là tốt hơn nếu cha mẹ cùng với giáo viên có thể chuẩn bị một môi trường mà có lợi cho khả năng đóng vai của trẻ.
(Ảnh minh họa 4- Phụ lục 1).
Trong lớp học không thể thiếu những góc chơi của bé, để lớp học thêm lôi cuốn trẻ, tôi phải tạo nên một môi trường lớp học với những màu sắc trang trí dịu nhẹ, không quá lòe loẹt gây rối mắt nhưng vẫn đủ 3 màu cơ bản xanh, đỏ, vàng… Ví dụ với góc chơi: “Hình và màu” thì tôi luôn trang trí các hình ảnh gần gũi quen thuộc với trẻ gây hứng thú mỗi khi trẻ tham gia chơi. Các hình ảnh được ghép bởi nhiều hình và màu sẽ được hiện lên trong mắt trẻ một cách cụ thể như: Ông mặt trời ghép bởi hình tròn màu vàng, hình tam giác màu đỏ, các loại quả tròn màu đỏ, vàng gắn cho cây; các bông hoa gắn nhị tròn màu xanh, đỏ, vàng và các con vật hay các đồ dùng đồ chơi…
(Ảnh minh họa 5- Phụ lục 1).
Những câu chuyện sinh động, hấp dẫn, những hình ảnh gần gũi, quen thuộc, những con rối với nhiều hình thức sẽ rất thu hút với trẻ 24- 36 tháng tuổi qua góc chơi: “Bé yêu thơ truyện”. Ở góc chơi này trẻ còn được phát triển vốn từ, học nhiều điều tốt đẹp qua các câu chuyện.
Ví dụ:
+ Lựa chọn hình ảnh: Một số con vật gần gũi trong câu chuyện “Thỏ con không vâng lời, Bài học đầu tiên của Gấu con…” làm các nhân vật rối như: Rối tay, rối que, rối dẹt… Minh họa cho các câu chuyện đang học để diễn rối hay cho trẻ gắn các nhân vật theo câu chuyện đó.
+ Các cuốn truyện phù hợp với lứa tuổi của trẻ được tôi treo trên tường phù hợp với tầm cao của trẻ để trẻ dễ lấy và cất. Các câu chuyện có nội dung đa dạng phong phú. Ngoài ra tôi còn tạo các cuốn sách, tranh ảnh tự tạo về chủ đề cho trẻ xem. Những con gấu được bày xung quanh góc với chiếc bàn nhỏ xinh giúp trẻ hoạt động thoải mái và tạo thêm ấm cúng như ngôi nhà yêu thương của mình.
(Ảnh minh họa 6- Phụ lục 1).
* Kết quả: Thông qua hoạt động chơi, nhân cách của trẻ được phát triển toàn diện, trẻ được thỏa mãn nhu cầu nhận thức, mở rộng hiểu biết của trẻ. Trẻ lớp tôi đi học không còn khóc, thích đến trường để được thỏa thích hoạt động và sáng tạo.
3. Biện pháp 3: Tổ chức các hoạt động học tập, vui chơi tạo hứng thú và thu hút trẻ.
Sau giờ đón trẻ buổi sáng, trẻ sẽ được tham gia vào các hoạt động học tập và vui chơi. Các hoạt động này có tác dụng giúp trẻ phát triển tư duy, nhận thức, phát triển kỹ năng giao tiếp với cô giáo, với bạn bè và mọi người xung quanh. Chính vì vậy, tôi luôn chú ý tìm ra các hình thức tổ chức các hoạt động học tập và vui chơi mới lạ để thu hút trẻ, hấp dẫn trẻ, lôi cuốn trẻ cùng hòa vào tập thể lớp.
* Cách làm: Lựa chọn các đề tài phù hợp, gần gũi với trẻ. Các bài thơ, câu chuyện có nội dung ngắn gọn, dễ hiểu về tình cảm yêu thương, sự chăm sóc giáo dục của cô giáo dành cho các bạn nhỏ, các bạn nhỏ ngoan ngoãn vâng lời, biết giúp đỡ nhau như: Đôi bạn nhỏ, miệng xinh, bàn tay cô giáo, Khỉ con biết vâng lời... Các bài hát tôi lựa chọn cũng có nội dung động viên khuyến khích trẻ đến trường, đến lớp ngoan ngoãn, biết vâng lời như: Trường chúng cháu đây là trường mầm non, vui đến trường, cháu đi mẫu giáo, khuôn mặt cười, biết vâng lời mẹ, bé ngoan...
Tôi sử dụng các hình thức khác nhau khi tổ chức các hoạt động cho trẻ. Trẻ lứa tuổi nhà trẻ rất yêu thích các nhân vật hoạt hình, các con vật ngộ nghĩnh đáng yêu. Nên tôi thường đưa các nhân vật đó xuất hiện trong các hoạt động học của trẻ, vừa học vừa chơi vừa cung cấp kiến thức cho trẻ.
Ví dụ: Trong hoạt động nhận biết “Khuôn mặt: Vui, buồn”. Tôi đã tích hợp rất nhiều hoạt động: Phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển TCKNXH- TM. Trẻ vừa được chơi, được hát, được xem rối, được chụp ảnh và trò chuyện với cô rất vui và hứng thú như đang chơi đùa với mẹ của mình. Qua đó, trẻ nhận biết được các khuôn mặt cảm xúc và thể hiện được các tâm trạng, tuy nhiên trẻ sẽ luôn vui tươi, rạng ngời, từ đó trẻ yêu thích đến lớp hơn.
(Ảnh minh họa 7- Phụ lục 1).
Bên cạnh đó tôi luôn sử dụng các đồ dùng, đồ chơi đẹp, sáng tạo, phù hợp để làm minh họa cho đề tài khi đang dạy trẻ: Trẻ sẽ dễ tiếp thu kiến thức hơn khi được trực tiếp quan sát các vật thật, đồ dùng thật
Tôi luôn sử dụng hình thức tuyên dương, khen thưởng, động viên trong quá trình tổ chức các hoạt động học nhằm tạo cho trẻ sự phấn khởi, khích thích sự ham học hỏi, tích cực tham gia hoạt động của trẻ.
Tổ chức hoạt động chơi trong lớp: Ngoài việc cung cấp cho trẻ các đồ dùng, đồ chơi cho trẻ hoạt động ở các góc, tôi còn chủ động mở rộng thêm các nội dung chơi sáng tạo cho phù hợp với trẻ để trẻ hoạt động. Khi tổ chức hoạt động tôi luôn chú ý tạo hứng thú cho trẻ, hướng dẫn trẻ chơi, thỏa thuận với trẻ, cho trẻ tự chọn góc chơi theo sở thích, không gò bó, ép buộc trẻ. Thông qua việc chơi ở góc, trẻ được chơi các trò chơi mà trẻ muốn, được giao lưu, cùng chơi với nhau nên trẻ rất thích. Đến giờ hoạt động góc tất cả 100% trẻ tham gia rất nhiệt tình vui vẻ và phấn khởi.
Tổ chức hoạt động ngoài trời: Tôi cho trẻ quan sát các đối tượng có trong sân trường, tổ chức các trò chơi vận động vui vẻ và cho trẻ được tự do với đồ chơi ngoài trời và các đồ chơi do cô chuẩn bị như: phấn, vòng... Trẻ rất hứng thú.
(Ảnh minh họa 8- Phụ lục 1).
Ngoài các hoạt động học và vui chơi, tôi luôn tận dụng các thời gian chuyển tiếp giữa các hoạt động để tổ chức cho trẻ các trò chơi dân gian, trò chơi vận động nhẹ nhàng hay cho trẻ đọc các bài vè vui vẻ. Trẻ rất hào hứng và hứng thú quên cả cảm giác nhớ bố mẹ.
* Kết quả: Trong thời gian ngắn trẻ không còn lạ lẫm, sợ sệt mà đã có tâm lý vui tươi, hào hứng và yêu thích đến trường mầm non.
4. Biện pháp 4: Kết hợp với tổ nuôi đảm bảo chế độ dinh dưỡng và thực đơn theo mùa cho trẻ.
Trẻ 24- 36 tháng tuổi phát triển nhanh cả về thể lực và trí tuệ là mốc quan trọng trong sự phát triển đầu đời của trẻ. Đây là quãng thời gian não bộ của trẻ phát triển rất nhanh, trẻ ham học hỏi và hoàn thiện các kỹ năng. Song đây cũng là quãng thời gian có nhiều biến động trong cách nuôi dạy trẻ. Trẻ cai sữa mẹ và có chế độ dinh dưỡng độc lập. Ở lứa tuổi này bữa ăn hàng ngày của trẻ rất quan trọng để giúp trẻ phát triển toàn diện và làm đà tốt cho sự tăng trưởng của thời kỳ tiếp theo.
Trẻ có ba bữa ăn trong một ngày ở trường mầm non, bao gồm hai bữa chính và một bữa phụ. Điều này không những cung cấp đủ dinh dưỡng cho trẻ hoạt động cả ngày mà còn giúp trẻ có sức đề kháng cao chống lại mọi dịch bệnh. Cung cấp dinh dưỡng đầy đủ, hợp lý và cân bằng là điều quan trọng nhất đối với trẻ. Trẻ từ 24- 36 tháng tuổi bắt đầu làm quen với việc đến trường, bắt đầu từ lớp học nhà trẻ. Điều này có nghĩa là, trong cuộc sống hàng ngày của mình, trẻ buộc phải bắt đầu thích nghi với chế độ sinh hoạt và chế độ ăn ở trường.
* Những khó khăn trong quá trình chăm sóc trẻ.
Trẻ mới đến lớp còn lạ cô giáo nên trẻ khóc rất nhiều. Có những trẻ còn từ chối và chưa quen với sự chăm sóc của các cô điều đó dẫn đến cô giáo gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình chăm sóc và đảm bảo chế độ ăn của trẻ. Mặt khác mỗi trẻ đến lớp đều có những sở thích ăn uống khác nhau (Có trẻ ăn cơm, có trẻ còn đòi ăn cháo, có trẻ không ăn hành, ăn rau, có trẻ không ăn thịt, có trẻ còn chưa biết ăn sữa chua…). Mà thực đơn của nhà trường lại đa dạng phong phú các loại thực phẩm, trong đó có những món trẻ chưa được làm quen như món: Cá trắm, thịt lợn xào ngũ sắc, Tôm, thịt rim cà chua, thịt gà, thịt lợn om nấm… Chính vì vậy việc đảm bảo chế độ ăn của trẻ là rất khó.
Thêm vào đó do chức năng của bộ máy tiêu hóa trẻ nhỏ chưa phát triển hoàn thiện, gặp các thức ăn lạ trẻ hay nôn chớ dẫn đến không đảm bảo lượng dinh dưỡng hàng ngày kéo theo việc trẻ hay bị ốm. Còn có trẻ mới tập ăn cơm không nhai kĩ hay nuốt chửng nên rất hay bị táo bón.
*Các biện pháp giúp trẻ đảm bảo chế độ dinh dưỡng tại trường.
Trước tiên tôi tham mưu với Ban giám hiệu và tổ nuôi để thay đổi những thực đơn dễ ăn quen thuộc với trẻ. Trong những tuần đầu trẻ mới đến lớp nên cho trẻ ăn những món như: Thịt lợn, trứng chim cút kho tàu; Cá trắm, thịt lợn xốt cà chua; Thịt rim cà chua… Tôi đề nghị với nhà trường phải chú trọng hơn nữa tới việc nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ. Đặc biệt là xây dựng thực đơn, tính khẩu phần dinh dưỡng cân đối phù hợp.
Khi xây dựng thực đơn yêu cầu phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
1. Xây dựng thực đơn theo mùa, mùa nào thức ấy. Bởi vì, nếu ăn thực phẩm trái mùa thường có nhiều thuốc kích thích, giá cả lại đắt. Những món ăn nóng phù hợp với mùa đông (Thịt kho tàu, thịt bò sốt vang, canh củ quả nấu thịt hầm...) món ăn mát cho mùa hè (Thịt sốt cà chua, bí xanh xào thịt, canh mồng tơi nấu cua, canh riêu cua...).
2. Đảm bảo 5 ngày trong tuần thực đơn không trùng nhau. Tránh các thực phẩm xung khắc (Giá đỗ- gan, hải sản- hoa quả…). Ký hợp đồng và đặt thực phẩm ở nơi có uy tín, có công nhận an toàn vệ sinh thực phẩm.
3. Đủ lượng, đủ tiền, giao nhận thực phẩm đầy đủ theo quy định chung. Phối hợp cùng các cô giáo, cô nuôi cho trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất .
4. Cung cấp đủ năng lượng nhà trẻ: 600- 651 Kcal trong 1 ngày ở trường cho 1 trẻ. Cân đối các chất theo tỉ lệ P= 13- 20%, L= 30- 40%, G= 47- 50%. Cân đối giữa thực phẩm động vật và thực vật, giữa mỡ và dầu ăn. Thực đơn giàu vitamin và khoáng chất, đặc biệt là canxi, B1 đảm bảo canxi: 350mg/ngày/trẻ và B1: 0,41mg/ ngày/trẻ.
Trước giờ ăn, tôi tạo cho trẻ cảm giác thoải mái vui vẻ để trẻ không có tâm lý sợ giờ ăn. Bên cạnh đó tôi sẽ giới thiệu tên các món ăn cũng như các chất dinh dưỡng có trong món ăn một cách hấp dẫn nhất.
Trong các bữa ăn tại trường thì động viên trẻ ăn hết suất, chú ý những trẻ ăn kém, giáo dục trẻ ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng để tăng sức đề kháng. Cho trẻ ăn đúng giờ tránh hiện tượng trẻ ngủ gật khi ăn.
(Ảnh minh họa 9- Phụ lục 1).
*Kết quả: Trẻ trong lớp đã ăn được tất cả các món ăn ở trường, trẻ không còn bị nôn chớ và cũng rất hào hứng khi chuẩn bị đến giờ ăn.
Phụ huynh cũng rất yên tâm khi ở trường các con được chăm sóc về dinh dưỡng một cách chu đáo và đầy đủ. Đặc biệt ở nhà trẻ đã thích ăn những món ăn nhiều vitamin và muối khoáng như các loại rau, các loại củ quả…
5. Biện pháp 5. Kết hợp với nhân viên y tế phòng các dịch bệnh, chăm sóc sức khoẻ tốt cho trẻ khi trẻ ở trường mầm non.
Trẻ nhỏ thường có sức đề kháng kém hơn người lớn, đặc biệt là trẻ dưới 3 tuổi do hệ miễn dịch của cơ thể chưa hoàn thiện. Thực tế cho thấy, tỉ lệ trẻ dưới 3 tuổi hay mắc các bệnh liên quan đến đường hô hấp, tiêu chảy. Vì vậy, song song với việc củng cố sức khoẻ của hên thống tiêu hoá, tăng khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng thì vấn đề cân đo, khám sức khoẻ cho trẻ theo định kỳ là bắt buộc trong trường mầm non.
Chính vì thế ngay từ khi trẻ mới vào lớp tôi đã kết hợp với y tế cân, đo vào biểu đồ và khám sức khỏe theo định kỳ cho trẻ, đặc biệt đối với trẻ béo phì và trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi, nhẹ cân theo dõi cân đo hàng tháng.
(Ảnh minh họa 10- Phụ lục 1).
Luôn luôn cho trẻ vệ sinh tay chân sạch sẽ trước khi ăn uống để phòng chống các bệnh truyền nhiễm.
(Ảnh minh họa 11- Phụ lục 1).
Dạy trẻ phòng dịch bằng các biện pháp như hạn chế nơi đông người, đeo khẩu trang khi ra đường…
(Ảnh minh họa 12- Phụ lục 1).
Sau đó, tôi tìm hiểu xem những rối loạn tâm sinh lý và bệnh lý của các bé là gì khi mới đến lớp để biết cách điều chỉnh và đã ghi nhận một số biểu hiện như sau:
+ Rối loạn ăn uống: Bé hay nôn ói, chán ăn, bỏ ăn hoặc từ chối một số món ăn quen thuộc mà trước đây bé vẫn hay ăn.
+ Rối loạn giấc ngủ: Bé thường khó ngủ, sợ ngủ, ngủ hay giật mình, khóc đêm, ngủ mơ, nói sảng…
+ Rối loạn tiểu tiện: Bé có thể nín tiểu, đái dầm hoặc đi tiêu trong quần (mặc dù từ nhỏ đến lớn bé không hề như thế)…
+ Rối loạn hành vi: Bé thu mình vào một góc, không thích chơi với ai cả.
+ Rối loạn ngôn ngữ: Ít nói hoặc chậm nói, nói luyên thuyên…
+ Rối loạn quan hệ mẹ- con: Có bé giận không thèm nói chuyện với mẹ, hoặc người thân khi đến đón bé về…
Từ các biểu hiện trên tôi sẽ có các biện pháp khác nhau với từng trẻ để gần gũi trẻ hơn và trẻ cảm thấy yên tâm khi đến trường.
Ví dụ: Đối với trẻ rất khó ngủ thì tôi đã gần gũi trẻ vỗ về cháu, hát ru cho trẻ ngủ hoặc đọc một câu truyện mà trẻ thích. Những lúc trẻ hoảng loạn khi ngủ thì cô luôn ở bên cạnh. Xuất phát từ tình thương cử chỉ âu yếm, việc làm gần gũi tạo sự thân thiện cho trẻ có cảm giác yên tâm và tin tưởng khi ở bên cô.
(Ảnh minh họa 13- Phụ lục 1).
* Kết quả: Đối với phụ huynh: Rất yên tâm khi gửi con tại lớp vì các cô luôn lắm bắt được tâm sinh lý trẻ và luôn có các biện pháp mới đối với từng giai đoạn phát triển của trẻ. Phụ huynh luôn được cập nhất những thông tin hai chiều và được cung cấp thêm các biện pháp phòng dịch tốt nhất cho trẻ.
Đối với trẻ: Tất cả các trẻ đều thích đi học và 100% trẻ lớp tôi không bị nhiễm các dịch bệnh lớn. Trẻ tăng cân đều đặn phát triển mọi mặt mạnh dạn tự tin hơn khi giao tiếp.
IV. KẾT QUẢ CHUNG ĐẠT ĐƯỢC:
Sau khi thực hiện các biện pháp trên, lớp tôi đã đạt được kết quả như sau:
90% trẻ mới đã đi học rất đều. Các bé mới vào học không còn khóc nhiều như trước đây, dễ thích nghi với trường, lớp hơn, hòa nhập với các bạn nhanh hơn. Luôn mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp, luôn yêu thích lớp học của mình và thích tham gia các hoạt động với các cô các bạn. Nề nếp lớp được ổn định nhanh hơn, giáo viên đỡ vất vả hơn khi nhận cháu mới
Phụ huynh yên tâm và tin tưởng nhà trường khi gửi con đến trường. Đến trường, đến lớp các con luôn được quan tâm phát triển về mọi mặt. Các con được học chương trình giáo dục mầm non với đầy đủ các kiến thức kỹ năng để chuẩn bị cho trẻ bước lên mẫu giáo, phụ huynh không còn ưu tư lo lắng như trước đây nữa…
(Ảnh minh họa 14- Phụ lục 1).
C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Sau khi thực hiện đề tài “Một số biện pháp giúp trẻ nhà trẻ 24- 36 tháng tuổi hứng thú, yêu thích đến trường mầm non”. Qua khảo sát, trẻ lớp tôi đạt kết quả sau:
Bảng tổng hợp kết quả khảo sát trẻ đầu năm và cuối năm
| STT | Nội dung lựa chọn | Đầu năm | Cuối năm |
| Đạt | % | Chưa đạt | % | Đạt | % | Chưa đạt | % |
| 1 | Trẻ tự tin, hứng thú đến lớp | 8 | 27 | 22 | 72 | 29 | 97 | 1 | 3 |
| 2 | Trẻ thích nghi với hoạt động và nề nếp ở lớp, ở trường | 12 | 40 | 18 | 60 | 28 | 93 | 2 | 7 |
| 3 | Trẻ đi học đều | 15 | 50 | 15 | 50 | 27 | 90 | 3 | 10 |
Biểu đồ kết quả khảo sát trẻ cuối năm. (theo tỉ lệ %)
I. KẾT LUẬN CHUNG.
Việc giúp trẻ hứng thú, yêu thích đến trường mầm non là một cơ sở tốt để giúp trẻ hình thành nhân cách con người. Đối với trẻ thơ một trong những nhiệm vụ trọng tâm của việc giáo dục nhân cách trẻ là hình thành ở trẻ tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống con người qua đó xây dựng chương trình tuyªn truyÒn phï hîp víi t©m lý tõng trÎ để trẻ biết yêu thích đi học và phụ huynh cũng yên tâm cho trẻ đến trường. Trẻ sẽ thích nghi môi trường lớp học, biết thương yêu quan tâm tới cô giáo, bạn bè, luôn có thái độ chăm sóc và bảo vệ, vệ sinh cá nhân cũng như các hoạt động ở trường mầm non. Trẻ mầm non không thể cảm nhận được những cái hay, cái đẹp khi thiếu tác động của cô giáo và người lớn xung quanh. Bởi trẻ chưa có nề nếp thói quen tốt, mà phải nhờ vào sự tổ chức, hướng dẫn của cô giáo và những người thân trong gia đình, cộng đồng và xã hội cùng chung tay giáo dục trẻ.
Ban giám hiệu luôn tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho giáo viên đổi mới phương pháp, đồng thời phát huy khả năng truyền đạt đến trẻ. Hãy để cho trẻ được làm trẻ con một cách thật sự, được hòa nhập với các bạn cùng trang lứa, được giao lưu với xã hội bên ngoài, để trẻ phát triển một cách hài hòa nhất.
II. KHUYẾN NGHỊ.
Có được thành công như vậy là nhờ sự quan tâm sâu sắc của ngành, sự nhiệt tình của chị em đồng nghiệp và sự quan tâm của các bậc phụ huynh cho việc học của con em mình. Song các giáo viên phải luôn cố gắng tìm tòi học hỏi ở chị em đồng nghiệp, ở sách báo, internet… Để tìm ra cách giải quyết những khó khăn trước mắt để đem đến cho trẻ những gì tốt đẹp nhất.
Tôi rất mong Phòng giáo dục và Đào tạo huyện cùng Ban giám hiệu nhà trường tạo điều kiện hơn nữa để giáo viên chúng tôi được học tập tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng cho giáo viên trong việc giúp trẻ sớm thích nghi với môi trường ở trường mầm non.
Trên đây là một số biện pháp nhỏ của tôi trong việc giúp trẻ nhà trẻ 24- 36 tháng hứng thú, yêu thích đến trường mầm non. Kính mong quý cấp trên và đồng nghiệp có ý kiến đóng góp để tôi có nhiều kinh nghiệm hơn nữa trong việc tạo hứng thú, yêu thích đi học cho trẻ nhà trẻ của mình.
Xin trân trọng cảm ơn!